Giấc mơ Duy Tân
Tháng 7 tri ân "Thế hệ của một thời Hoa lửa và Sống đẹp"
Tháng 7, tháng Tri ân, Tháng Đền ơn đáp nghĩa, Tháng của những tưởng nhớ và hoài niệm trong dạt dào cảm xúc thiêng liêng: Cả Nước đã và đang long trọng kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh-Liệt sỹ (27/7/1947 – 27/7/2017) trong bối cảnh Tổ quốc đang vững vàng một tâm thế sẵn sàng hội nhập.
Trong nhiều sự kiện và hoạt động rất thiết thực đã, đang và sẽ diễn ra trong tháng cả nước tri ân, một tập sách (do chính những người đã đi qua cuộc chiến và đã đối mặt trực tiếp với sự hủy diệt lạnh lùng của đạn bom, sự khắc nghiệt đến cùng tận của nhà tù, của cuộc sống nơi chiến khu,… cùng biết bao đau thương không kể hết bằng lời của mất mát, của tang thương khi non sông bị xâm lược, bị chia cắt), từ khi có mặt trong đời sống văn hóa đọc, đến nay, đã được nhiều thế hệ độc giả đón nhận với tất cả sự trân trọng….
![]() |
Đó là những người đã bao bọc chở che, những người bạn chiến đấu, những nhà giáo, những tu sỹ, những chính khách, những người lao động vất vả gặp tình cờ, trong những năm tháng khốc liệt ấy….Họ có hoàn cảnh sống, nghề nghiệp tâm tư, suy nghĩ khác nhau. Nhưng tất cả đều gặp nhau ở một điểm chung: Lòng Yêu Nước và khát vọng Hòa bình-Thống nhất Tổ quốc.
Những Nhà giáo "xả thân" theo tiếng gọi kháng chiến
Trong Người của một thời, bên cạnh những chân dung đã trở thành nhân vật của truyền thông quốc tế và trong nước, như Bác sỹ Phạm Thị Xuân Quế - người được nhắc đến khá đậm nét trong bộ phim lịch sử chiến tranh nổi tiếng “Việt Nam-Một thiên lịch sử bằng truyền hình/Vietnam A Television History” (nguyên tác là nghiên cứu khảo luận của Nhà Sử học, Nhà báo nổi tiếng Hoa Kỳ, Stanley Karnow, cuốn “Vietnam: A History”), …. còn có những người “cũng nổi tiếng” mà lần đầu, qua tập sách này, độc giả mới có dịp tiếp cận.
Trong “Bức chân dung dở dang”, các tác giả đã “thưa thật về bức chân dung của một con người” được phác họa chỉ “trên những chi tiết rời rạc quá ít ỏi”, cuối cùng, “đành liều lĩnh thử phác họa đôi nét thô-nhạt về chân dung Thầy Trương Văn Thông, qua vài chi tiết trong dăm lá thư còn lại mà Thầy đã viết gửi cho vợ con, trong những ngày tháng bị giam cầm ở các nhà lao Đà Nẵng, rồi bị đày ra Côn Đảo”.
Là Nhà giáo ái quốc, thoát ly tham gia kháng chiến, bị địch bắt, chịu cảnh tù đày, rồi trở thành chiến sỹ Vệ quốc đoàn. Năm 1954, lẽ ra được tập kết ra Bắc, nhưng lại không đi được, Thầy quay về lại Đà Nẵng và phải chịu cảnh “Tố Cộng-Diệt trừ tận gốc mọi mầm mống Cộng sản” vô cùng tàn ác và đẫm máu của anh em nhà họ Ngô đang diễn ra trên một nửa đất nước.
|
|
| Quân đội Sài Gòn đi càn và đốt nhà dân, đẩy dân phải vào sống trong ấp chiến lược. Tình cảnh này đã buộc đồng bào miền Nam phải đứng lên đòi lại độc lập, tự do, thống nhất, chấm dứt chiến tranh hủy diệt. -Ảnh tư liệu của Bảo tàng chứng tích chiến tranh (TP Hồ Chí Minh). |
May mắn lắm, “người cán bộ 9 năm” ấy mới không bị phát hiện, để rồi, từ năm 1960, Thầy tiếp tục “nối lại đường dây”, đảm nhận trách nhiệm của Hội Giáo chức Giải phóng Đà Nẵng (một tổ chức mà chỉ cần nghe đến cái tên, cũng đủ để nhà cầm quyền lúc đó đày tất cả hội viên ra Côn Đảo).
Giai đọan 1964-1968, trong ngôi nhà không lấy gì rộng rãi lắm (ở địa chỉ ngày nay là số nhà 66, đường Nguyễn Thị Minh Khai, Đà Nẵng), vợ chồng Thầy đã nuôi giấu nhiều cán bộ. Không thể nào ghi và tả hết được những nguy hiểm mà vợ chồng Thầy cùng gia đình phải chịu đựng trong 4 năm ấy.
Thầy Trương Văn Thông còn nổi tiếng là to gan, lớn mật khi dùng chiếc xe Vespa Italia chở ông Ba Phước (tức đồng chí Hồ Nghinh, lúc đó là Bí thư Thành ủy Đà Nẵng thuộc Khu ủy V) ra khỏi Đà Nẵng một cách an toàn. Những người chứng kiến nhớ và kể lại câu chuyện này không khỏi rùng mình vì lúc đó, nhà cầm quyền treo thưởng với số tiền rất lớn cho bất kỳ ai “chỉ điểm hay bắt Ba Phước tức Hồ Nghinh giao nộp cho nhà chức trách quốc gia”. Thầy Thông chở ông Ba Phước ung dung ra khỏi nội thành Đà Nẵng, giữa lúc cả một bộ máy mật vụ, chiêu hồi, cảnh sát, an ninh, tình báo, quân đội ngụy quyền (đã và) đang giăng lưới truy lùng ráo riết, quyết bắt cho được người đứng đầu Thành ủy Cộng sản.
Chưa hết, gia đình Thầy còn có nhiều “kỷ niệm” nhắc lại là "nổi da gà" với nhiều cán bộ lãnh đạo trong kháng chiến như ông Hà Kỳ Ngộ (lúc đó là Phó Bí thư Thành ủy Đà Nẵng thuộc Khu ủy V, sau đó là Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy Đà Nẵng, phụ trách đấu tranh chính trị), ông Phan Duy Nhân (cán bộ cốt cán của phong trào học sinh, sinh viên đô thị miền Nam, hoạt động trực tiếp ở Đà Nẵng và TP Huế. Ông là hình mẫu của nhân vật nhà thơ Phan Trịnh trong tiểu thuyết :”Học phí trả bằng máu” của nhà văn Nguyễn Khắc Phục. Sau ngày giải phóng ông làm Phó Trưởng ban, Ban Dân vận tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (cũ), rồi Quyền Trưởng ban, Ban Tôn giáo TƯ. Ông Phan Duy Nhân vừa qua đời sáng ngày 8/7/2017).
|
Và các tác giả, đã khóc thầm khi viết những dòng cuối cùng (vào Sổ tang) được nhắc lại trong tập sách: “Anh không còn nữa nhưng tình cảm và những họat động anh dành cho cách mạng còn sống mãi trong chúng tôi. Mãi mãi nhớ Anh.Thay mặt anh chị em trong Hội lúc bấy giờ. Lê Công Cơ”. Các tác giả còn đầy thổn thức: Không ai tạc tượng để thờ phụng một con người bình thường, nhưng ra đi, để lại tình cảm quý trọng trong lòng người thân quý, có gì tốt đẹp hơn. Bức chân dung có lẽ … đã bớt đi những dở dang, thô-nhạt, bởi câu chuyện đã kết thúc trọn vẹn, có thủy, có chung và rất có hậu. Một Nhà giáo khác cũng lưu lại một chân dung ấn tượng trong tập sách: Thầy Nguyễn Phúc. Đó là ông Thầy dạy Lịch sử, có chất giọng khàn khàn, nửa Huế, nửa Quảng, là người hoàng tộc nhưng lại không bênh vực Triều Nguyễn. Khi giảng về thời kỳ Liên quân Pháp-Tây Ban Nha đánh vào Đà Nẵng, uy hiếp kinh thành Huế, Thầy hết lời ca ngợi Tướng – sỹ Nguyễn Tri Phương đã anh dũng chiến đấu đến khi ngã gục dưới chân Thành Điện Hải. Thầy đã truyền tinh thần đó cho học trò với một thái độ đớn đau khi Nước mất, nhà tan… Học trò Thầy sau đó, như hiểu ý của Thầy, có người thoát ly ra vùng giải phóng, có người ở lại nội thành hoạt động sâu trong lòng địch rồi bị tù đày.
Bản thân Thầy cùng với một vài cơ sở nội thành, bị địch bắt, đưa ra giam tại lao Thừa Phủ (Huế), rồi chuyển về giam ở các nhà lao Đà Nẵng (1966-1968). Ra tù, Thầy lại tiếp tục hoạt động cách mạng cho đến 1975. Có thể nói, phong trào đấu tranh của học sinh-sinh viên Đà Nẵng, Huế đều gắn bó với Thầy. Thầy không tiếc công sức tiền của cho các hoạt động của phong trào. Không riêng Thầy cả gia đình đều toàn tâm, toàn ý cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng. Dù cái giá phải trả Thầy cũng đã trả. Thầy trở thành chỗ dựa quý báu cho bao người trẻ, từ đó, dám đứng lên và đi tới, dám dấn thân và xả thân vì sự nghiệp vĩ đại của cả dân tộc. Nhiều người không là học trò của Thầy, nhưng đều nhận mình là học trò Thầy Phúc và xem Thầy như tấm gương về sự lựa chọn của một trí thức, chấp nhận tất cả hiểm nguy, chấp nhận tất cả nghèo khó của cuộc sống, không than vãn để đi cùng với “Đất Nước, với Cách Mạng và với Cuộc Đời này”. TS. Huỳnh Văn Hoa (nguyên Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo TP, trước khi nghỉ hưu là Bí thư Đảng ủy khối các Cơ quan TP) đã thay mặt Anh chị em tham gia phong trào đấu tranh đô thị Đà Nẵng, viết: Thầy đã sống trọn cuộc đời với niềm tin vào lẽ phải và sự lương thiện. Thầy đã để lại cho anh em, bè bạn, học trò bao thế hệ cũng ngần ấy giá trị. Rằng là, những trăn trở suy tư, bất bình của Thầy về bao điều của sự thế, nói như Nguyễn Du, những điều trông thấy mà đau đớn lòng, sẽ không trôi theo thời gian. (bài viết của TS. Huỳnh Văn Hoa được đăng trên báo Đà Nẵng; các tác giả đã xin phép đăng nguyên văn lại trong tập sách). Thầy Nguyễn Phúc qua đời tháng 10/2011, sau khi đã dự buổi gặp mặt đầy cảm động, được gặp lại biết bao thế hệ học trò, mà chính Thầy là Người đã thắp lửa yêu Nước trong lòng họ: Buổi gặp mặt kỷ niệm 40 Tổng Đoàn Học sinh-Sinh viên Đà Nẵng.
|
Tin tức khác



.jpg)
.jpg)
